VIÊM MÀNG NÃO MỦ Ở TRẺ EM
VIÊM MÀNG NÃO MỦ
ĐẠI CƯƠNG:
- Viêm màng não mủ là tình trạng bệnh lí gây nên do các VK (đôi khi cả KST) có khả năng sinh mủ xâm nhập vào màng não với bệnh cảnh lâm sàng chủ yếu là hội chứng nhiễm khuẩn cấp và hội chứng màng não.
- Chẩn đoán xác định bệnh nhất thiết phải dựa vào kết quả chọc dò dịch não tuỷ:
+ Tìm được VK, KST qua soi và nuôi cấy.
+ Tìm được KN VK đặc hiệu và/ hoặc
+ Các biến đổi về sinh hoá, tế bào có xu hướng viêm mủ.
- Các căn nguyên gây bệnh thay đổi theo thời kỳ, theo lứa tuổi, địa lý.
- Căn nguyên hay gặp thay đổi theo thời gian:
+ Giai đoạn trước khi có kháng sinh (trước 1944), chủ yếu gặp VMNM do não mô cầu.
+ Từ năm 1945 tới thập kỉ 80, thường gặp theo thứ tự: não mô cầu, phế cầu, tụ cầu, liên cầu, trực khuẩn đường ruột.
- Chia căn nguyên chia theo 3 nhóm tuổi:
+ Nhóm 1: Trẻ > 3 tháng: Não mô cầu, HI và phế cầu...
+ Nhóm 2: VMNNK thứ phát (sau chấn thương, ổ NK vùng kế cận) gồm tụ cầu, liên cầu.
+ Nhóm 3: Trẻ £ 3 tháng:
· Trực khuẩn đường ruột (Ecoli, Proteus....).
· Klebsiella.
· Listeria monocytogen.
· Liên cầu B.
· Trực khuẩn mủ xanh.
- Ở Việt Nam (Ngô Thị Thi 1988-1992) căn nguyên chung cho trẻ < 5 tuổi theo thứ tự gặp H.I (59%), Klebsiella (14%), phế cầu, tụ cầu vàng, não mô cầu và E.coli.
- Tỷ lệ cấy (+) ở các nước đang phát triển khoảng 30-50% do BN thường đã được sử dụng KS.
- Tuổi: chủ yếu gặp trẻ £ 3 tuổi đặc biệt < 1 tuổi.
- Giới: nam mắc nhiều hơn nữ.
- Liên quan:
+ Tình trạng suy giảm miễn dịch, đẻ non, SDD.
+ Tình trạng nhiễm khuẩn cấp hoặc mạn tính, đặc biệt các ổ NK vùng TMH.
+ Dị tật màng não (thoát vị màng não - tuỷ). Các phẫu thuật TK đặc biệt là sonde dẫn lưu não thất - phúc mạc. Các CTSN. Tai biến của thủ thuật chọc dò thắt lưng, chọc dò não thất qua thóp,…
+ Yếu tố di truyền.
+ Thay đổi môi trường sống.
- Tác nhân xâm nhập vào màng não theo 3 con đường: máu, bạch huyết, kế cận.
- Ở trẻ em, khởi đầu vi khuẩn xâm nhập qua niêm mạc mũi, họng, thanh quản hoặc phế quản. Ở đó, tuỳ theo phản ứng miễn dịch của cơ thể, vi khuẩn có thể khu trú, chỉ gây bệnh tại chỗ (gây viêm mũi họng, thanh quản hoặc phế quản) hoặc lọt vào hệ thống máu hay bạch huyết.
- Do chức năng bảo vệ của hàng rào mạch máu - màng não/ hàng rào mạch máu não ở trẻ nhỏ chưa hoàn chỉnh, vi khuẩn có thể xâm nhập vào màng não và gây VMNNK tiên phát.
- Tác nhân gây bệnh cũng có thể từ các ổ nhiễm khuẩn trong cơ thể, đặc biệt từ các vị trí cận kề màng não (tai giữa, xương chũm, các xoang) hoặc các vi khuẩn sẵn có trong cơ thể gặp điều kiện thuận lợi (chấn thương, tai biến mạch máu não, màng não, dị tật,…) xâm nhập vào màng não gây VMNNK thứ phát.
- Trong môi trường dịch não tuỷ VK dễ dàng phát triển sinh sôi vì cơ chế bảo vệ, miễn dịch ở đây rất yếu (với một vài bạch cầu/mm3 và nồng độ các globulin miễn dịch không đáng kể).
- Do VK sử dụng glucose qua chuyển hóa yếm khí sẽ gây tiêu thụ glucose rất mạnh (làm glucose rất giảm) và gây toan hoá (nồng độ acid lactic tăng); đồng thời VK tiết ra độc tố gây phản ứng viêm dị ứng (kéo theo bạch cầu, bổ thể, kháng thể vào dịch não tuỷ) và tình trạng nhiễm độc. Quá trình viêm nhiễm này cũng có thể gây tăng bài tiết DNT (từ các đám rối mạch mạc), rối loạn bài tiết ADH làm cản trở hấp thu dịch não tuỷ (qua các hạt Pachioni) góp phần làm tăng áp lực nội sọ. Một số VK còn có thể xâm nhập vào tổ chức não gây viêm nhiễm, phù nề não kéo theo các biểu hiện lâm sàng nặng nề.