Halloween Costume ideas 2015
Articles by "nhi khoa"

        Từ lúc chào đời, hệ miễn dịch của bé vẫn còn non nớt và chưa phát triển toàn diện, nên bé có thể mắc phải một số bệnh mà người lớn chúng ta có thể vượt qua. Vắc xin phát huy tác dụng qua việc tạo một lượng Protein (kháng nguyên) của một số loại bệnh, vừa đủ để kích thích cơ thể sản sinh các kháng thể mà không gây nhiễm bệnh. Con bạn nhờ vậy sẽ có sức đề kháng tự nhiên cần thiết để tự bảo vệ khi tiếp xúc với các căn bệnh thực sự trong tương lai. Sau đây, Blog Y Dược sẽ tổng hợp các thông tin liên quan đến vắc xin chủng ngừa cho trẻ theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế Giới, Viện vệ sinh dịch tễ Trung Ương, Bệnh viện Nhi Trung Ương,...



Lịch tiêm chủng bắt cuộc cho trẻ em (theo Chương trình tiêm chủng mở rộng - Viện vệ sinh dịch tễ Trung Ương).

Chẩn đoán VPMPCĐ đòi hỏi việc hỏi quá trình bệnh lý hoặc thăm khám thực thể có quá trình nhiễm trùng cấp với những dấu chứng hoặc triệu chứng của hô hấp gắng sức hoặc những bằng chứng của thâm nhiễm phổi cấp [7],[30]. Những tiếp cận chẩn đoán trong chừng mực nào đó tùy thuộc vào trường hợp và mức độ nặng của bệnh. Những trường hợp lâm sàng phù hợp, có thể đưa ra chẩn đoán mà không cần đến X Quang. Ở những trẻ nặng hơn cần phải được nhập viện, chẩn đoán nên được khẳng định bằng X Quang. Nếu có thể, chẩn đoán bệnh sinh nên được tiến hành ở những trẻ mà yêu cầu phải nhập viện và thất bại trong điều trị ban đầu.
Chẩn đoán lâm sàng: chẩn đoán viêm phổi nên được cân nhắc ở những trẻ có triệu chứng về hô hấp, đặc biệt là ho, thở nhanh, có dấu hiệu co kéo, và khám phổi ghi nhận bất thường. [ 2 ], [ 3 ], [ 7 ] 

Theo truyền thống, cách tiếp cận hồi sức ban đầu ở người lớn tương tự như ở trẻ em.
  1.  A(airway) : Đường thở
  2. B (breathing): Hô hấp
  3. C (circulation/compression): Tuần hoàn/ ép tim
  4. D (drugs): Thuốc
  5. E (exposure): Phơi nhiễm



Chú ý đặt tư thế hợp lý, cung cấp Oxy và thông khi phải được đi đầu và thuốc xếp sau cùng. Tuy nhiên, những năm gần đây, Có những điểm rất thú vị là việc ép tim phải được tiến hành sớm hơn. Cứ mỗi phút chậm trễ có thể làm giảm 10% cơ hội sống sót cho bệnh nhân. C (compression)
A (airway) B (breathing) dần được hấp nhận rộng rãi, đặc biệt là ở người lớn.

   Có một vài quy tắc có thể giúp cho việc nhớ những dạng bệnh lý di truyền một cách đơn giản hơn, đúng cho rất nhiều trường hợp.


1. Nếu như không thể biết được thì nhớ di truyền lặn nhiễm sắc thể thường là rối loạn thường gặp nhất.
2. Nếu đó là những rối loạn do thiếu hụt "deficiency" thì hãy nghĩ đến di truyền gen lặn trên nhiễm sắc thể thường, trừ khi nhớ rõ đó là di truyền liên kết với NST giới tính X.
Mất 1 bản sao của 1 protein thường không đủ để gây ra triệu chứng.
3. Nếu như tình trạng bệnh lý nặng ( Bệnh nhân thường chết trước tuổi sinh đẻ) thì có vẻ như di truyền trội NST thường trừ khi có liên quan đến những đột biến tự phát.
Ví dụ: Bệnh thận đa nang di truyền lặn trên NST thường có rất nhiều kiểu hình nặng mà khi đó chủ yếu đó là do bệnh thận đa nang di truyện trội NST thường.
4. Không có quá nhiều những bệnh lý di truyền liên kết NST giới tính X nên hãy nhớ những trường hợp phổ biến nhất. Điều này dễ hơn nếu như bạn luôn nghĩ về nó ở những trẻ trai.
Cardi Tran Nhan dịch và tổng hợp

Williams syndrome:
Đặc trưng WILLIAMS:

Weight (low at birth, slow to gain) - Nhẹ cân, chậm tăng cân
Iris (stellate iris) - Mống mắt hình sao
Long philtrum - Nhân trung dài
Large mouth - Miệng tộng
Increased Ca++ - Nồng độ Ca++ máu tăng.
Aortic stenosis (and other stenoses) - Hẹp val ĐMC hoặc hẹp các cấu trúc khác.
Mental retardation - Chậm phát triển trí tuệ
Swelling around eyes (periorbital puffiness) - Vùng quanh hốc mắt đầy (bọng quanh hốc mắt to)



Trisomy 18 - Edward Syndrome



EDWARD
E: Elongated skull  - Chẩm nhô, đầu dài.
D: Digits overlapping with closed fist - Các ngón tay chồng lên nhau với bàn tay nắm chặt.
W: Webbing of 2nd and 3rd toes - Dính ngón chân 2 và 3
A: Absent radii, Athrogryposis - Không có xương quay, các khớp lệch vẹo 
R: Rocker bottom foot - Lòng bàn chân phẳng
D: Death(lethal) in 15% cases in infancy - Chết trong 15% trường hợp khi còn nhỏ
Nguồn: www.rxpg.com

Diễn giải:

Khám thực thể: vàng da (Icterus)

Từ đồng nghĩa: Jaundice



Định nghĩa: vàng da là sự đổi thành màu vàng của da, niêm mạc và các dịch trong cơ thể (dịch não tủy, dịch khớp, dịch trong các nang) là kết quả của tình trạng tăng bilirubin theo sau là sự lắng đọng của sắc tố mật trong các mô giàu elastin. Người Hy Lạp cho rằng ánh mắt của chim vàng anh có thể chữa bệnh vàng da, vì vậy chúng có tên là icterus (tiếng Hy Lạp – Ikteros có nghĩa là chim vàng anh). 
   Thông thường, vàng da biểu hiện lâm sàng khi lượng bilirubin trong huyết thanh vượt mức 2-3 mg/dl ở trẻ lớn, người lớn và 5 mg/dl ở trẻ sơ sinh.

Các vị trí để tìm vàng daTrước khi thăm khám: Tốt nhất là sử dụng ánh sáng tự nhiên ban ngày (có thể không phát hiện được khi dùng ánh sáng nhân tạo). sử dụng máy đo nồng độ bilirubin qua da đối với trẻ em nếu không có ánh sáng tự nhiên.
Các vị trí:
1. Kết mạc nhãn cầu trên (củng mạc)
2. Vòm miệng
3. Mặt dưới lưỡi
4. Gan bàn tay và gan bàn chân
5. Bề mặt da chung

Ở những người da trắng, dễ dàng nhận thấy nhất ở trên mặt, thân và củng mạc trong khi đối với những người có da sẫm màu hơn nó được xác định rõ rệt nhất ở vòm miệng, củng mạc và kết mạc.

      Đái dầm (Dạ niệu, Niệu sàng hay Tiểu nhi di niệu) là rắc rối phổ biến ở trẻ em. Không phải là bệnh lý nghiêm trọng nhưng nó khiến trẻ gặp rất nhiều khó khăn trong giao tiếp xã hội và có thể dẫn tới sự căng thẳng cao độ trong gia đình. Tác động tâm lý tiêu cực nhất của đái dầm là làm xói mòn lòng tự tin ở trẻ. Khi mắc chứng bệnh này, đa số trẻ nghĩ mình có điều gì đó không ổn. Nhiều bé tin đó là sự trừng phạt cho những suy nghĩ hay việc làm sai lầm của bản thân. Tương tự như vậy, nhiều phụ huynh cũng tự trách mình không giỏi làm cha mẹ.
nguồn ảnh: internet

     Cảm giác tội lỗi càng bị đẩy cao nếu bạn bè hay người thân cho rằng sự bất ổn về tâm lý là nguyên nhân khiến bé đái dầm. Sự căng thẳng và mệt mỏi kéo dài có thể khiến cha mẹ nổi nóng, thậm chí còn trừng phạt khi con đái dầm. Hiểu thấu đáo nguyên nhân gây bệnh sẽ giúp cha mẹ tìm ra những biện pháp điều trị hiệu quả.


Top 100 điều cần biết nhi khoa
Sau đây là tổng hợp các kiến thức này giúp tóm tắt những khái niệm, nguyên lý và các chi tiết nổi bật nhất trong lĩnh vực nhi khoa và những điều thường gặp nhất trong khi thi cử.

nguồn ảnh: internet



76. Khoảng 6% số trẻ em là người mang mầm bệnh streptococcú và sẽ có kết quả cấy họng dương tính giữa các đợt viêm họng.

77. Điểm số apgar tại thời điểm 1 phút sau và 5 phút sau sinh không giúp tiên đoán kết cục lâu dài.

78. KHông bao giờ sử dụng natri carbonate ở trẻ sơ sinh nếu trước tiêm không bảo đảm thong khí đầy đủ.

Top 100 điều cần biết nhi khoa
Sau đây là tổng hợp các kiến thức này giúp tóm tắt những khái niệm, nguyên lý và các chi tiết nổi bật nhất trong lĩnh vực nhi khoa và những điều thường gặp nhất trong khi thi cử.


nguồn ảnh: internet

51. Một trẻ bị abcess gan nên được xét nghiệm bệnh u hạt mạn tính cho đến khi được chứng minh ngược lại.


Top 100 điều cần biết nhi khoa
Sau đây là tổng hợp các kiến thức này giúp tóm tắt những khái niệm, nguyên lý và các chi tiết nổi bật nhất trong lĩnh vực nhi khoa và những điều thường gặp nhất trong khi thi cử.




nguồn ảnh: internet

26. Không giống như các trẻ bị đái tháo đường type 1, hầu hết trẻ bị đái thái đường typ 2 đều ít hoặc không sụt cân và không có hoặc hỉ tiểu nhiều và tiểu đê ở mức độ nhẹ. Hầu như đường niệu không kèm theo cetone niệu (mặc dù có đến 33% có cetone niệu).

Top 100 điều cần biết nhi khoa

Sau đây là tổng hợp các kiến thức này giúp tóm tắt những khái niệm, nguyên lý và các chi tiết nổi bật nhất trong lĩnh vực nhi khoa và những điều thường gặp nhất trong khi thi cử.




nguồn ảnh: internet

1 .Luôn phải nghĩ đến nguyên nhân xoắn buồng trứng trong chẩn đoán phân biệt khi có tình trạng đau bụng ở trẻ gái, đặc biệt trong độ tuổi từ 9-14 tuổi, vì đây là độ tuổi các điểm xoắn tại nang buồng trứng thường xảy ra do trục hormone sinh dục đang trưởng thành

   Có nhiều khi bạn bắt gặp những tình huống mà dân dan gay gọi là khóc dạ đề hay trẻ khó nuôi... Khiến không ít cảnh cả bố, mẹ và thậm chí cả gia đình thức trắng đêm vì trẻ, cũng không ít trong số đó đến với phòng khám, đêm trực của chúng ta với tình trạng quấy khóc liên tục mãi mà không dỗ được, có không ít các bác sĩ cứ quy cho đó là cơn đau bụng có thắt hay cơn colic nhưng thực sự chưa thực sự hiểu được có những vấn đề gì, cần loại trừ những gì,... hi vọng qua bài dịch và tổng hợp dưới đây có thể giúp làm sáng tỏ thêm phần nào.

Trường hợp lâm sàng
Gia đình của một bé trai 2 tuần tuổi mang cậu bé đến khoa cấp cứu bởi vì cấu bé cứ khóc miết hơn 4 tiếng đồng hồ. Bé không có tiền sử sốt nôn, đi chaye, nhiễm trùng hô hấp trên hay thay đổi việc ăn uống gì, vẫn bú sữa mẹ hoàn toàn.

Thăm khám thực thể, sơ sinh phát triển khỏe mạnh và nuôi dưỡng tốt. cân nặng trong giới hạn bình thường. Mặc dù bé quấy và khóc, bé không sốt và các dấu hiệu sống đều bình thường. Các thăm khám thực thể khác đều trong giới hạn bình thường. (Hình ảnh minh họa: internet)

Câu hỏi:
1. Dạng khóc nào bình thường ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.
2. Colic là gì?
3. Những tình trạng nào có liên quan đến khó ckéo dài ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.
4.  Những yếu tố chính trong việc tham khám một đứa trẻ nhỏ hoặc sơ sinh  vào viện vì khóc.
5. Những xét nghiệm nào cần được chỉ định ở những trẻ này.
6. Những chiến lược điều trị nào có thể hướng dẫn cho bố mẹ làm dịu đi những cơn khóc hoặc cơn colic đó ở trẻ.

Khóc và cơn colic

Khóc,
là một cách giao tiếp quan trọng giữa trẻ và người chăm sóc, không đặc hiệu và có nhiều kích thích có thể dẫn đến những đáp ứng tương tự ( ví dụ như: đói, mệt, đau...). Bố mẹ cho rằng họ có thể phân biệt giữa những loại khóc đó ở trẻ. Khóc có thể được chia thành 3 nhóm: Bình thường hoặc khóc sinh lý, khóc quá mức do các kích thích hoặc bệnh lý, và khóc quá mức (excessively) mà không có nguyên nhân rõ ràng.

Khác biệt giữa bình thường và quá mức có thể mang tính định tính nhiều hơn là định lượng. Một số thăm khám cần được nhớ PURPLE (màu đỏ tía) đặc trưng cho khó trong suốt gia đoạn đầu đời, tập trung định tính có thể đánh lừa người chăm sóc.


Trong lịch sử phát triển của con người, có những giai đoạn sữa mẹ bị ngó lơ và xếp xó. Trong những năm 1960 tại Úc, người ta thống kê thấy chỉ có khoảng phân nửa trẻ được cho bú mẹ sau khi được sinh ra và xuất viện về nhà, và chỉ có 1/5 trẻ được cho bú mẹ sau 3 tháng tuổi. Nhưng, càng về sau, các nghiên cứu y khoa càng chứng minh cho thấy lợi ích và giá trị không thể chối cãi được của sữa mẹ, và trả lại “cúp vàng” cho sữa mẹ về chất lượng vượt trội so với những sản phẩm “nhân tạo” khác (aka: sữa công thức). Sự thật là, giá trị của sữa mẹ dành cho trẻ vượt qua giá trị dinh dưỡng đơn thuần, và được minh chứng bằng các bằng chứng nghiên cứu hùng hồn đến mức, tổ chức y tế thế giới WHO và Hội Đồng Nhi Khoa Hoa Kỳ đều lên tiếng nhấn mạnh, vào năm 2012, rằng việc cho trẻ bú mẹ hoàn toàn không nên được xem là một lựa chọn cá nhân, mà nên được xem là một vấn đề sức khỏe cộng đồng! Hiện nay, các khuyến cáo của các tổ chức y khoa đều thống nhất khẳng định việc cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu đời, sau đó tiếp tục bú mẹ cùng với ăn dặm cho đến 1 tuổi, hoặc tiếp tục sau 1 tuổi, tùy nhu cầu và mong muốn chung của mẹ và bé.




Chảy máu mũi xảy ra khi một mạch máu nhỏ ở niêm mạc mũi vỡ đi. Niêm mạc mũi rất mỏng manh, và các mạch máu nhỏ nằm sát bề mặt niêm mạc, vì vậy, các mạch máu nhỏ này rất dễ vỡ và gây chảy máu.
Chảy máu mũi xảy ra rất phổ biến ở trẻ, và có thể gây ra từ những nguyên nhân rất nhỏ nhặt, tưởng chừng vô hại, như trẻ móc mũi, xì mũi quá mạnh hoặc quá thường xuyên, bỏ vật lạ vào mũi, hoặc bị bạn đụng vào mũi khi đang chơi. Chảy máu xảy ra thường với lượng rất ít, mặc dù chúng ta có cảm giá như trẻ chảy máu rất nhiều khi thấy máu lan ra đồ trẻ mặc, hoặc thấm ướt khăn giấy, và thường xảy ra trong khoảng thời gian ngắn, trung bình khoảng 10 phút.
Một số bệnh có thể gây trẻ dễ chảy máu mũi hơn bình thường, ví dụ như :
• Nếu trẻ có mạch máu nhỏ quá nhạy, dễ vỡ và chảy máu khi tiết trời thay đổi, như khi trời nóng hoặc khô
• Nhiễm trùng tai mũi họng, cảm sổ mũi thông thường
• Dị ứng
• Một số trẻ bị bón, khi trẻ rặn gắng sức nhiều, cũng có thể gây chảy máu mũi.
Cách sơ cứu tại nhà:




Đây là một tai nạn tổn thương không phổ biến, nhưng cũng không quá hiếm gặp, đặc biệt ở nhóm trẻ trai từ 5-12 tuổi – khi trẻ đủ lớn để tự kéo khóa phéc-mơ-tuya quần để đi tè, nhưng cũng đủ nhỏ để không để ý, không thận trọng và để tai nạn xảy ra. Nói vậy, chứ đôi khi tai nạn này cũng xảy ra ở bất kì độ tuổi nào – vì là tai nạn.
Thường khi tai nạn này xảy ra, trẻ rất đau, và rất hoảng loạn, làm người lớn cũng hoảng theo, và đa số người nhà sẽ làm theo quán tính là ráng kéo phéc-mơ-tuya lên xuống để mong làm sao giải phóng phần da đầu chim bị kẹt ra. Tuy nhiên, khi làm như thế này, có thể gây tổn thương, bầm dập thêm vùng da bị kẹt, và gây đau đớn nhiều hơn cho trẻ.
Một mẹo đơn giản là nếu bạn có loại dầu bôi trơn nào, như dầu dừa, dầu ăn, dầu khoáng (những loại không gây hại cho da), nên tưới nhiều lên khắp vùng da bị kẹt, phéc-mơ-tuy, và con chim của trẻ, và đợi khoảng 15-20 phút, da bị kẹt có thể tự “chuồn ra” khỏi khóa kéo.
Nếu muốn làm nhanh hơn, và có sẵn kéo ở đó, bạn có thể làm theo cách sau:
Nếu da đầu chim bị kẹt giữa đường răng của phéc mơ tuy (như hình minh họa):
• Bạn lấy kéo cắt ngang đường răng kéo nằm dưới chỗ kẹt, và tách hai đường răng ra để giải phóng phần da kẹt (số 2).
• Nếu có kéo mạnh nữa (thường là kiềm cắt dây kim loại), bạn có thể cắt thanh ngang của khóa trượt (số 1), để hai bản trước sau của khóa trượt được tách ra, và bạn tiếp tục tách hai đường răng ra để giải phóng phần da kẹt.


Biểu tượng cảm xúc wink
Bạn có biết: đây là một tai nạn rất phổ biến xảy ra. Ở trẻ em, đa số do các tai nạn không mong muốn, đặc biệt khi trẻ té, hoặc đụng vào những đồ vật cứng. Ở người lớn, ngoài tai nạn, có thể còn do “tự chuốc lấy” qua những trận ẩu đả, đánh nhau! Biểu tượng cảm xúc wink.
Thống kê của tổ chức Nội Nha Hoa Kỳ cho thấy, có hơn 5 triệu cái răng bị “văng ra” mỗi năm, ở trẻ em và người lớn! Tuy nhiên, có thể nhiều bạnkhông biết rằng, nếu sơ cứu đúng cách, chúng ta có thể “cứu” được cái răng văng ra này, chứ không phải chịu khổ sở suốt đời vì bị mất răng!
Vậy, chúng ta nên làm thế nào đúng cách? Đây là những bước các bạn nên làm:
Nên nhớ: răng chúng ta có hai phần: phần nhai (là bề mặt phẳng, trơn mà chúng ta dùng để nhai), và phần rễ (như các bạn thấy trong hình, là phần nhọn, và có máu khi răng bị văng ra)


Cứ 10 người có khoảng 1 người đã, đang hoặc sẽ bị co giật ít nhất 1 lần trong đời. Vì vậy, co giật là một “tình trạng” khá thường gặp, và trong cuộc đời mình, bạn có khả năng cao sẽ phải chứng kiến một người bị co giật cần giúp đỡ! Vì vậy, chúng ta nên trang bị cho mình kiến thức cơ bản cần thiết để có thể “giúp đúng” khi cần, hoặc ít nhất, phải biết những hành động nào gọi là “giúp sai” để tránh, không làm tổn thương thêm người cần giúp một cách ngoài ý muốn!
Điều bạn cần biết đầu tiên, và nên luôn nhớ là: BẠN KHÔNG THỂ LÀM GÌ ĐỂ DỪNG CƠN CO GIẬT CỦA MỘT NGƯỜI ĐƯỢC!
Điều thứ 2 nên biết, là: NGƯỜI CO GIẬT KHÔNG THỂ TỰ NUỐT LƯỠI CỦA MÌNH, CŨNG KHÔNG BỊ NGẠT THỞ VÌ CO GIẬT!
Điều thứ 3 nên biết, là: mặc dù bạn có thể cảm thấy rất dài, đa số các cơn co giật CHỈ DÀI KHOẢNG VÀI PHÚT, trung bình là 5 phút, mà thôi!
Vì vậy, đây là những bước bạn nên làm để “giúp đúng”:



1. Nên nhớ, con trẻ là bản sao của bạn. Bạn làm gì, trẻ sẽ bắt chước làm theo. Vì vậy, nên sử dụng hành vi của chính mình để hướng dẫn con, và sự thật là, hành động của bạn có giá trị hơn lời bạn giảng dạy con rất n hiều! Nếu bạn muốn con nói “xin lỗi”, bạn cũng phải nói vậy. Nếu bạn muốn con không to tiếng, bạn là người nên kiểm soát giọng nói và nói nhỏ nhẹ với con, cũng như với người khác, nhé! Biểu tượng cảm xúc wink
2. Nên cho trẻ biết cảm xúc của bạn! Trẻ không dễ đoán cảm giác của bạn, và không thể đồng cảm cho bạn,nếu bạn không nói cho trẻ biết. Từ 3 tuổi trở lên, trẻ đã có khả năng đồng cảm rồi. Ví dụ, nếu trẻ làm điều gì đó làm bạn buồn, nên nói với trẻ “Điều con làm thế này làm mẹ rất buồn”, lúc đó, trẻ mới có cơ hội nhìn theo quan điểm của bạn được!
3. Khi trẻ làm điều gì tốt, nên khen ngợi và khuyến khích trẻ ngay. Điều này giúp trẻ biết được đâu là điều nên làm, và có động lực để tiếp tục hành vi “tốt” đó. Nếu được, nên cân bằng giữa lời khen và lời tiêu cực, tuy nhiên, “cân bằng” ở đây không phải là 1:1 đâu nha, mà là 6:1 – cứ 6 lời khen tích cực thì mới nên mắng mỏ 1 lời tiêu cực thôi nha! Nên nhớ, trẻ con rất “ma giáo”, mặc dù chúng không cố tình! Nếu thấy có lựa chọn để được bạn quan tâm, tích cực (làm bạn vui), hoặc tiêu cực (làm bạn bực mình la hét om sòm), thì “tụi nó” sẽ thích chọn cách để bạn điên tiết lên hơn, vì điều đó "thú vị" hơn nhiều Biểu tượng cảm xúc wink
4. Đừng đứng nhìn xuống mà nói chuyện hay khen ngợi trẻ, rất trịch thượng khi làm như vậy. Cách tốt nhất để “lấy lòng” trẻ là khen trẻ một cách “ngang tầm”, ngồi xuống, hoặc niễng gối, để bạn “ngang hàng” với trẻ. Điều này làm trẻ thấy thoải mái, đồng thời giúp trẻ chú ý đến những lời bạn muốn nói một cách tự nguyện hơn.

Contact Form

Name

Email *

Message *

Powered by Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget